? Trường THPT Ðông Hà – Quảng Trị .:. truong thpt dong ha quang tri
Truyền thống
Tin tức - Hoạt động
Tập san
Chuyên mục khác
Dạy và học
Quản lý trường học
Thư viện ảnh - Video
Thư giãn
Hội đồng chuyên môn
    Tổ Tin học
    Tổ Toán
    Tổ Ngữ Văn
    Tổ Vật Lý
    Tổ Hoá Học
    Tổ Sinh học - Công nghệ
    Tổ Lịch Sử - GDCD
    Tổ Địa Lý
    Tổ Ngoại Ngữ (Anh)
    Tổ Thể Dục - GDQP
    Tổ Hành Chính
THI HỌC KỲ II
Đoàn trường
Lịch công tác
Văn bản- thông báo
Thành tích
Thời Khóa Biểu
Trang TT Bo GD&DT
So GD&DT Quang Tri

Phong cách thơ Nguyễn Duy
 

PHONG CÁCH THƠ NGUYỄN DUY

NHÌN TỪ PHƯƠNG THỨC BIỂU HIỆN

 

3.1. NGUYỄN DUY VÀ THƠ LỤC BÁT

Với lịch sử văn học, thể loại là ``những nhân vật chính`` (M.Bakhtin) [8, tr.21], nhưng bản thân thể loại nói chung hay thể nói riêng không phải là đối tượng nghiên cứu của phong cách, bởi theo Từ điển thuật ngữ văn học, thể loại là hiện tượng siêu cá thể, ``phản ánh những khuynh hướng phát triển vững bền, vĩnh hằng của văn học`` [33, tr.253]. Khi sáng tác, nhà thơ nào cũng phải khuôn theo những qui tắc thể loại, nhưng chỉ khi nào nhà thơ ``tiên quyết sự biến dạng của thể loại`` (Khrapchenkô) [45, tr.255], ``sáng tạo ra qui tắc thơ ca`` (Maiacôpxki) [30, tr.18], thì lúc ấy, phong cách của họ mới được bộc lộ. Như vậy, nghiên cứu phong cách nhà thơ từ phương diện thể loại có nghĩa là tìm hiểu nhà thơ ấy đã ``đổi mới trong việc kế thừa`` (Phan Ngọc) [63, tr.34] như thế nào cái ``khuôn mẫu rắn chắc`` (M.Bakhtin) [8, tr.21] của thể loại.

Nhưng sự  ``đổi mới trong việc kế thừa`` của nhà thơ ở phạm trù thể loại có liên quan như thế nào đến việc lựa chọn một thể thơ nào đó để biểu đạt ý tưởng, cảm xúc ? Nhà thơ Lưu Trọng Lư cho rằng: ``Trước một cảm xúc nào đó, chọn một thể loại nào đó cho thích hợp, đó là phút giây thần diệu của tâm hồn, của nghệ thuật thơ`` [56, tr.38]. Nhưng trong thực tế, ``phút giây thần diệu`` ấy của thi nhân chỉ có thể thực sự thăng hoa ở những thể thơ được xem là sở trường của họ. Chỉ ở thể thơ đó, nhà thơ mới bộc lộ hết tài năng và cá tính sáng tạo của mình. Do vậy, theo chúng tôi, thể thơ sở trường chính là đối tượng trung tâm trong việc tìm hiểu phong cách nhà thơ nhìn từ phương diện thể loại.

Lục bát chính là thể thơ sở trường của Nguyễn Duy. Thực ra, ông cũng rất thành công với thể thơ văn xuôi. Đã có ý kiến cho rằng, chỉ với Nhìn từ xa ...Tổ quốc, Mười năm bấm đốt ngón tay, Kim Mộc Thuỷ Hoả Thổ, Nguyễn Duy đã đủ điều kiện để trở thành một nhà thơ nổi tiếng. Nhưng Nguyễn Duy với lục bát có mối lương duyên tiền định: ``Cứ bèo bọt bước thiên di / đưa chân lục bát mà đi loằng ngoằng`` (Bao cấp thơ). Và ở thơ văn xuôi, khí chất của Nguyễn Duy không đậm đặc như ở thơ lục bát. So với các nhà thơ đã gặt hái nhiều thành công ở thể thơ lục bát, số bài lục bát trong sáng tác của Nguyễn Duy chiếm tỉ lệ rất cao và những bài thơ tiêu biểu cho hồn thơ ông phần lớn được sáng tác bằng thể thơ này. Bảng thống kê sau sẽ cho chúng ta thấy rõ điều đó.

Bảng 3.1. BẢNG THỐNG KÊ SO SÁNH TỈ LỆ THƠ LỤC BÁT

 

ttt

Tên tác

phẩm

Tổng số bài

Số bài lục bát

Tỷ lệ %

(lục bát)

Tên người sưu tầm, biên soạn

Nhà xuất bản Năm xuất bản

1

Thơ Tản Đà

119

20

17

Nguyễn Nghiệp

Văn học, 1982

22

Tố Hữu tác phẩm

167

27

16

Hà Minh Đức

giới thiệu

Văn học, 1979

33

Tuyển tập Huy Cận, I

169

27

16

Xuân Diệu,

Nguyễn Xuân Nam

Văn học, 1986

44

Tuyển tập Nguyễn Bính

89

34

38

Vũ Quốc Ai, Quang Huy, Đỗ Đình Thọ, Kim Ngọc Diệu

Văn học, 2001

55

Thơ Nguyễn Duy

108

73

68

Trần Đăng Khoa

Giáo dục, 1998

Nhìn vào các số liệu trong bảng thống kê trên, ta thấy tỉ lệ các bài thơ lục bát của Nguyễn Duy gấp gần 4 lần Tản Đà, Huy Cận, Tố Hữu và vượt Nguyễn Bính - nhà thơ được mệnh danh ``Con đẻ của câu lục bát chìm nổi nơi đồng quê`` (Chu Văn Sơn) [75, tr.171]- là 30%. Và có lẽ trong thơ hiện đại Việt Nam, đây là con số kỷ lục ! Lục bát Nguyễn Duy mang tính lưỡng trị vì được sáng tác theo hai khuynh hướng: trở về với cội nguồn ca dao và cách tân lục bát theo xu hướng ``hiện đại hoá``.

3.1.1. Lục bát Nguyễn Duy - Sự trở về cội nguồn ca dao.

Cũng như lục bát của Tản Đà, Huy Cận, Nguyễn Bính, Tố Hữu, lục bát Nguyễn Duy cũng đậm đà chất ca dao dân ca. Cùng sinh ra từ nguồn cội ấy, nhưng nếu lục bát Tản Đà chắt lọc chất ỡm ờ tình tứ, lục bát Huy Cận trở về với âm điệu nhẹ nhàng trầm lắng, lục bát Nguyễn Bính thừa hưởng trọn vẹn cả giọng than lẫn giọng ghẹo cùng cách đo đếm thời gian bằng thước đo ``từ cụ tượng đến ...siêu hình`` (Chu Văn Sơn) [75, tr.180] và cách đan chữ nhuần nhuỵ, lục bát Tố Hữu kế thừa giọng tâm tình ngọt ngào thiết tha thì lục bát Nguyễn Duy đậm đà chất ca dao bởi lối ``tập ca dao`` độc đáo. Qua cách mượn ý hoặc dùng nguyên vẹn cả câu ca dao xưa, Nguyễn Duy đã trộn lẫn thơ ông vào ca dao, tạo nên những ý thơ vừa quen thuộc vừa mới lạ: ``Nhìn về quê mẹ xa xăm / lòng ta - chỗ ướt mẹ nằm đêm mưa / ngồi buồn nhớ mẹ ta xưa /                             miệng nhai cơm búng lưỡi lừa cá xương`` (Ngồi buồn nhớ mẹ ta xưa). Ông còn vận dụng linh hoạt lối ``nói ngược`` vừa tinh nghịch vừa chua cay: ``Siêng làm xúc phạm phàm ăn / kẻ đi xúc phạm kẻ nằm dài lưng`` (Xẩm ngọng) và sử dụng phép trùng điệp vốn thường gặp trong ca dao để thể hiện những xúc cảm mãnh liệt: ``Rừng xanh chết trắng một thời / cây giơ xương trắng lên trời mà ghê`` (Giấc mộng trắng)...Như vậy, trong khi các nhà thơ khác thường nghiêng về phía uyển chuyển, mềm mại, óng ả của ca dao thì Nguyễn Duy lại có xu hướng chọn sự gai góc, táo bạo của ca dao truyền thống để viết những Khúc dân ca của riêng mình. Nhưng với Nguyễn Duy, sự trở về với cội nguồn chỉ là chiếc neo nối cánh diều lục bát Nguyễn Duy với mặt đất truyền thống. Những cách tân độc đáo ``cãi lại vẻ êm dịu mượt mà vốn có của câu hát ru truyền thống`` (Lại Nguyên Ân) [91, tr.202] mới chính là yếu tố quan trọng tạo nên nét riêng độc đáo của lục bát Nguyễn Duy.

3.1.2. Lục bát Nguyễn Duy - Những cách tân độc đáo

Trước hết, xét về hình thức văn bản thơ, lục bát Nguyễn Duy có những khác biệt đáng kể. Mỗi khổ thơ của ông thường gồm từ 1 đến 6 dòng thơ, được trình bày thẳng hàng, chỉ chữ đầu tiên của câu đầu dòng mới viết hoa. Trong thời văn hoá nghe nhìn rất phát triển, cách trình bày này không chỉ tạo nên những văn bản thơ ``lạ mắt`` mà còn thể hiện sự phá vỡ ``cấu trúc cơ bản của lục bát là ``dòng trên 6, dưới 8`` (Nguyễn Xuân Đức) [31, tr.156] khiến các khổ thơ trong cùng một bài không còn có hình thức đều đặn mà co giãn linh hoạt phù hợp với việc thể hiện dòng cảm xúc phức tạp nhiều cung bậc của nhà thơ. Ngay cả những bài thơ thuần nhất những khổ thơ hai dòng cũng không còn giữ được âm hưởng hài hoà đều đặn của ca dao truyền thống bởi sự tách hai dòng thơ thành một khổ riêng biệt khiến người đọc phải nghỉ hơi dài hơn, tạo nên sự ngắt quãng của mạch thơ.

Về âm luật, Nguyễn Duy cũng có những cách tân rất độc đáo về phối thanh, ngắt nhịp. Cặp lục bát vốn là ``một tổ hợp nghiêng về thanh bằng`` [75, tr.174], và theo Chu Văn Sơn, tỉ lệ giữa bằng trắc là 5/2 [75, tr.174]. Nếu xem đây là một tỉ lệ mang tính chuẩn mực, khảo sát 100 cặp lục bát của Tản Đà, Tố Hữu, Huy Cận, Nguyễn Bính, Nguyễn Duy, chúng tôi có được kết quả sau: trong khi số cặp lục bát sử dụng từ  5 thanh trắc trở lên của Nguyễn Duy là 66, thì ở Huy Cận là 55, Nguyễn Bính là 47, Tản Đà là 45, và Tố Hữu là 44. Như vậy, Nguyễn Duy có thiên hướng dùng thanh trắc nhiều hơn các nhà thơ khác, thậm chí ông có nhiều câu lục mà thanh trắc chiếm đến 2/3: ``Sốt cơn ác tính chín da`` (Người đang yêu) ; ``Đất vụn tơi, đá vụn tơi`` (Nắng) ; ``Cực kỳ gốc sấu bóng me`` (Cơm bụi ca) ...Chính việc sử dụng thanh trắc nhiều như thế đã khiến lục bát của Nguyễn Duy thường có âm hưởng mạnh mẽ, gay gắt chứ không nhẹ nhàng uyển chuyển như ca dao truyền thống. Cùng với việc sử dụng nhiều thanh trắc, lục bát Nguyễn Duy có cách ngắt nhịp lẻ rất riêng. Ông không chỉ sử dụng nhịp một tạo nên những đứt quãng trong dòng thơ như Nguyễn Du, Tản Đà, Tố Hữu, Nguyễn Bính [Xem 65, tr.184-185],  mà còn sử dụng nhịp 3 ở những câu lục không có tiểu đối và kết thúc câu bát bằng nhịp ba: ``Quê mình đó / phải không anh?`` (Đất đỏ - nước xanh); ``Ôi giời ơi /...nõn nà chưa`` (Trắng ...và trắng...); ``Lại về / với mái tăng / bầu trời vuông`` (Bầu trời vuông); ``Còn ly ty / lắng đọng / ta với mình`` (Chiều mận Hậu); ``người xa quê / léng phéng / người xa quê`` (San - Diego, 28.7.1995)...Cách ngắt nhịp này thực sự đã tạo ra những câu lục bát ``đọc không thuận miệng, nghe không thuận tai`` (Nguyễn Quang Tuyên) [93, tr.16]. Ông còn sử dụng dấu ngang, dấu chấm lửng như  phép tu từ kéo dài chỗ nghỉ hơi làm giãn nở chiều kích câu thơ lục bát: ``Chờ em...lẳng lặng...tôi chờ / lập loè hoa gạo lờ mờ bóng cây`` (Buổi sáng sau chiến tranh); ``Cũng là phiêu dạt theo nhau / về đây - chót mũi Cà Mau - gặp cò!`` (Lời ru con cò biển)...Với cách phối thanh và ngắt nhịp trên, lục bát Nguyễn Duy phần nào đã phá vỡ âm hưởng nhịp nhàng, mềm mại của lục bát truyền thống.

Nếu xét về phương thức biểu hiện, ta thấy sự cách tân độc đáo nhất của lục bát Nguyễn Duy chính là ở ngôn ngữ. Ông đã đưa vào thơ rất nhiều từ ngữ đời thường như các liên từ dẫn dắt, đưa đẩy, các phương ngữ của nhiều miền đất. Đặc biệt là ông đã dung hợp vào lục bát những từ láy ba, láy tư ``kềnh càng`` như: ngấp nga ngấp ngoáng, phấp pha phấp phới, xất bất xang bang, tưng tửng từng tưng, ngứa nga ngứa ngáy, thất tha thất thểu, toác toàng toang, mòm mom móm, xỉnh xình xinh, ễnh ềnh ệnh... trong đó có những từ khiến Vương Trí Nhàn hồ nghi ``không rõ tác giả bịa ra hay nhặt ở đâu không biết`` [61, tr.260]. Phối hợp với các từ láy đó là một loạt sự trùng điệp âm ở nhiều cấp độ: ``ú ơ ú ớ ù ờ`` (Tập ru con),  ``tâm toang hoác rỗng rối tinh hình hài`` (Mỗi), ``trời lao đao đất lao đao lờ đờ`` (Thuốc lào), ``yêu lăn yêu lóc la đà đã chưa`` (Được yêu như thể ca dao)...Những từ láy và điệp âm ấy đã phá vỡ sự ngắt nhịp, phối thanh vốn cân đối hài hoà của lục bát, khiến nhịp thơ lướt qua cả điểm dừng ngữ pháp lẫn ngữ lưu tạo nên một sự ``phá phách`` vỏ bọc âm luật truyền thống.

Đồng thời, Nguyễn Duy còn đưa vào lục bát một loạt những ngôn từ rất ``bụi``, rất ``vỉa hè``: như chơi, xếp xó, trót quen hơi, đứt bóng, cực nhớ, cực thèm, cực kỳ, hơi bị, vô tư, nưng nứng mộng, toan nhăng cuội...Đây không phải thứ  ``ngôn ngữ vỉa hè`` đã từng xuất hiện trong phóng sự của Vũ Trọng Phụng như một bằng chứng phản lại sự khai hoá của văn minh phương Tây mà là thứ ngôn ngữ  rất quen thuộc đối với số đông người dân lao động, tuy bề ngoài có vẻ ``lấm láp``, ``bụi bặm`` nhưng lại có khả năng biểu hiện đa dạng và độc đáo. Nếu như sự kết hợp hài hoà giữa ngôn ngữ bình dân và ngôn ngữ bác học đã đem lại cho lục bát Nguyễn Du một vẻ đẹp mẫu mực, sự vận dụng nhuần nhuyễn ngôn ngữ ca dao đã tạo nên lục bát ``chân quê`` Nguyễn Bính, thì những ngôn từ ``bụi bặm`` của Nguyễn Duy đã đem cả vào lục bát cái lấm láp, xô bồ của cuộc sống ở ngay thời hiện tại, thổi vào lục bát một nguồn sinh lực mới, khiến thể thơ này trở nên mới mẻ, sinh động, trẻ trung như vừa mới được sinh ra từ chính cuộc sống này.

Cùng hướng ``làm mới`` lục bát bằng những từ lạ với Nguyễn Duy là Đồng Đức Bốn. Nhưng những từ lạ của nhà thơ này không phải được cập nhật từ ngôn ngữ đời thường mà là kết quả của những kết hợp từ rất ngẫu hứng và táo bạo: cánh hoa ``sắc một lưỡi  dao``, tiếng vạc ``chém trăng`` đứt thành hai mảnh, ``cầm tiếng sóng``, ``cầm cái hững hờ``, ``đi trên dòng sông gai``, ``tay cầm cơn bão``, ``trượt nắng qua cầu``...Sự ngẫu hứng và táo bạo trong cách kết hợp từ ấy đã tạo nên những câu lục bát ``quyết liệt và táo tợn`` (Nguyễn Đăng Điệp) [29, tr.277] đưa người đọc vượt qua cõi thực chạm đến cõi mộng, cõi mê. Nhà nghiên cứu văn học Lại Nguyên Ân đã nghiêm khắc quá chăng khi cho rằng: ``Hầu hết những câu lục bát Đồng Đức Bốn đều xa gần có nét ngoa ngôn lộng ngữ``, ``đã đi đến giới hạn bên này của sự bạo hành ngôn ngữ`` [3, tr.29]. Nhưng nhà văn Nguyễn Huy Thiệp có vì mến người thơ quá chăng mà khẳng định: ``Đồng Đức Bốn là vị cứu tinh của thơ lục bát ?`` [85, tr.5]. Chúng tôi không tham gia vào cuộc tranh luận ấy, chỉ muốn so sánh để khẳng định rằng: với sự khác biệt về cách lựa chọn ngôn ngữ, nếu lục bát của Nguyễn Duy tươi rói chất sống của cuộc đời ở thì hiện tại thì lục bát Đồng Đức Bốn lại dẫn ta vào những cuộc phiêu du, đúng như nhà thơ tự giới thiệu về mình: ``Bút thơ mở một cung đàn / Vườn văn chữ  gió ngựa hoang bên trời`` (Mây núi Thái Hàng còn giông).

Đề cập đến xu hướng cách tân lục bát bằng chữ lạ cũng không thể không nhắc đến cố thi sĩ Bùi Giáng. Nếu những con chữ của Đồng Đức Bốn chênh vênh giữa giới hạn thực hư thì ngôn từ của Bùi Giáng đã thật sự trượt qua giới hạn ấy, tháo cởi mọi ranh giới giữa điên và tỉnh, hư và thực, cổ và kim bằng những trật tự từ vu vơ dẫn mạch thơ ``đi viễn du, nghêu ngao bất định`` (Vũ Quần Phương) [67, tr.92]: ``Nàng tiên ấy đã đi đâu / Đi mùa động đậy đi màu hương phai / Đi về ngày mốt ngày mai / Đêm tăm tối mộng đi dài dặm băng / Tôi về nằm ngủ thấy trăng / Đi về rất mực rất quen một nàng`` (Chuyện chiêm bao18)...Có thể so sánh như thế này được chăng,  riêng về nghệ  thuật sử dụng ngôn từ, Nguyễn Duy và Bùi Giáng là hai thái cực: ngôn từ Nguyễn Duy là ngôn từ của đời thực lấm láp, trẻ trung; ngôn từ Bùi Giáng phiêu bồng ở miền vô chung vô thuỷ. Đồng Đức Bốn ở giữa hai thái cực đó, một thế đứng khá chênh vênh để khẳng định chính mình.

Như vậy, sự phối hợp giữa phân đoạn, phối thanh, ngắt nhịp và đặc biệt là việc sử dụng ngôn từ đã đem lại cho lục bát Nguyễn Duy một dáng vẻ thật mới lạ. Không những không còn ở đây sự chuẩn mực nghiêm túc của lục bát cổ điển, mà âm hưởng mềm mại uyển chuyển của lục bát ca dao cũng bị cải hoá đi rất nhiều. Nhưng cái ``ngang ngang`` phá vỡ âm hưởng của lục bát truyền thống ấy xem ra lại phù hợp với nhịp sống của thời hiện tại, khi mà để đối mặt với cuộc sống ngổn ngang, phức tạp, dữ dội, con người phải vươn ra khỏi kích cỡ có tính qui phạm của thời trước đó.

Lục bát Nguyễn Duy từ những năm tám mươi trở về sau không chỉ đổi mới về ``văn thể`` mà còn đổi mới cảm xúc. Đó là sự mạnh mẽ táo bạo phơi bày sự thật của xã hội Việt Nam những năm sau chiến tranh. Chỉ với những hình ảnh như bê nguyên xi từ hiện thực cuộc sống làng quê: ``Gian ngoài thông thống gian trong``, ``Đường làng cây cỏ lưa thưa``, ``lưng còng bạc nắng thâm mưa``, ``ba ông táo sứt lửa rơm khói mù`` (Về làng), ông đã diễn tả thật sinh động cuộc sống nghèo khổ của người nông dân khi chiến tranh kết thúc hơn một thập kỷ. Hoặc trong bài Xẩm ngọng, trên cái nền nhạc ``tưng tửng từng tưng``, ``tinh tỉnh tình tinh``, ``tang tảng tàng tang`` nửa như đùa cợt, nửa như phá phách, Nguyễn Duy đã liệt kê mười lăm kiểu xúc phạm ngược đời: ``Người cười nói xúc phạm người ngậm tăm``, ``Kẻ đi xúc phạm kẻ nằm dài lưng``, ``Người yêu nhau xúc phạm người ghét nhau`` (Xẩm ngọng)... Đó là sự khái quát, cách điệu hiện thực xô bồ, phức tạp mà nhà thơ phải đối mặt. Không thể trần trụi, gay gắt, mạnh mẽ quyết liệt như phóng sự ra đời trong những năm tám mươi của thế kỷ XX, nhưng cũng không như các nhà thơ khác thường chú trọng đến nội dung trữ tình, với những bài thơ trên, Nguyễn Duy đã làm sống lại, làm mới lại loại lục bát thể hiện tinh thần phản kháng của ông cha ta thuở trước, đem vào lục bát thời hiện đại một nội dung mới: nội dung thế sự, để song hành cùng những ngôn từ rất ``đời`` kia là những vấn đề cũng rất ``đời``.

Nhưng có lẽ sự cách tân đậm nét nhất của Nguyễn Duy trong nội dung thơ lục bát chính là sự ``rũ`` ``gan ruột mình ra`` (Chữ của Nguyễn Duy) [95, tr.9]. Sau gần bốn mươi năm theo đuổi nghiệp thơ, Nguyễn Duy đã cay đắng nhận ra: mình chỉ là một kẻ ``thất tha thất thểu văn chương / kẽo cà kẽo kẹt tai ương đường dài`` (Xin đừng buồn em nhé...), là kẻ ``mải nưng nứng mộng siêu nhân``, vắt ra ``mấy giọt thơ nhạt phèo``, những con chữ ``tong teo`` (Cõi về). Thậm chí, nhà thơ còn nhận mình là kẻ: ``Dở khôn dở dại dở điên / động kinh kè lưỡi thánh thần làm oai`` (Tập ru con). Sự phơi bày tận cùng bản ngã bằng những câu thơ vừa mang tính trào lộng chua cay vừa mang tính tự thú chân thành khiến những dòng thơ lục bát phải cuộn sóng bởi những trăn trở, những day dứt, những dằng xé nội tâm ẩn sau từng câu chữ.

Từ trước đến nay, nhiều người vẫn thường cho rằng lục bát thích hợp để phô diễn những cảm xúc nhẹ nhàng tha thiết, ``thuận hơn đối với việc diễn tả những trạng thái tâm tình ít gai góc, ít đột biến, thất thường và hết sức sở trường đối với các khúc ngâm, khúc tự tình, những lời than thở lâm ly và những lời giao duyên ong bướm tình tứ`` (Chu Văn Sơn) [75, tr.174]. Vì thế, việc chạm đến thể tài thế sự, việc lột trái cái tôi cá nhân bằng tất cả sự  đắng đót xót xa của một trái tim mẫn cảm với sự hỗ trợ đắc lực của những từ láy, những điệp âm cồng kềnh, những từ ngữ lấm láp ``bụi đời`` của Nguyễn Duy đã đem đến cho lục bát hương vị lạ, trần trụi, gai góc như cuộc sống vốn vậy. Và có lẽ ``cái mới trong tình cảm, cái bạo trong suy nghĩ`` (Lê Quang Trang) [91, tr.201], cái ``ngang ngạnh``, ``biến hoá``, ``cựa quậy`` (Vũ Văn Sỹ) [80, tr.74], cái ``vẻ đẹp kỳ dị mà chỉ thơ hiện đại mới chấp nhận`` (Vương Trí Nhàn) [61, tr.262], sự ``giàu sinh lực...khoẻ khoắn, nồng đượm, tân kỳ`` (Chu Văn Sơn) [74, tr.52-53] của lục bát Nguyễn Duy chính là ở những cách tân độc đáo này.

Lục bát là thể thơ đặt người sáng tác ở vị trí ``bao giờ cũng là kẻ trên dây, nghiêng bên này là thơ, ``hớ hênh`` bên kia là vè`` (Nguyễn Đăng Điệp) [29, tr.275], ``vừa cấp đất dung thân, vừa cho thấy tầm cỡ nhà thơ`` bởi ``không nơi nào có thể làm phép thử tốt bằng nơi đây - đằng thằng, trần trụi, không ``gia vị``, nhưng chính vì thế mà bản chất nhất, mà không lộn sòng được`` (Nguyễn Phan Cảnh) [10, tr.146]. Nhưng bằng tất cả tài năng của mình, Nguyễn Duy đã đem đến cho lục bát một sức sống mới. Đến Nguyễn Duy, có thể tóm tắt hành trình của thể thơ đậm đà bản sắc dân tộc này như sau: từ lục bát dân gian hồn nhiên trong trẻo không chịu khuôn mình trong niêm luật, bằng tài năng và trí tuệ của mình, qua Truyện Kiều, Nguyễn Du xây dựng nên một ``mô hình lục bát chuẩn mực`` (Phan Diễm Phương) [65, tr.35], tiếp nối Nguyễn Du, Tản Đà đã ``cậy tài phá vỡ cấu trúc ca dao truyền thống`` (Mã Giang Lân) [47, tr.207]. Sau Tản Đà, lục bát được phân làm hai nhánh: nhánh thuần khiết chất ca dao của Nguyễn Bính và nhánh đậm đà chất cổ điển của Huy Cận. Hình như nhánh lục bát của Huy Cận vẫn chưa tìm được người thừa kế, còn lục bát của Nguyễn Bính lại tiếp tục phân hoá thành hai khuynh hướng khác nhau: một tiếp tục làm giàu thêm chất ca dao như Phạm Công Trứ, một coi sự ``cãi lại`` lục bát truyền thống như là cách để tạo nên sự trường sinh cho thể thơ này như Bùi Giáng, Nguyễn Đức Sơn, Nguyễn Duy, Đồng Đức Bốn. Không phải là người thử nghiệm, cũng không phải là người khép lại một cao trào, Nguyễn Duy đã góp mặt vào cuộc chạy tiếp sức của lục bát Việt Nam với những vần thơ tươi rói chất đời bụi bặm, mang nhịp điệu, hơi thở của cuộc sống ở chính thì hiện tại. Lục bát ghi công Nguyễn Duy, nhưng Nguyễn Duy phải giã ơn lục bát, bởi nhờ nó, ông đã có thể ``Là ta, ta hát những lời của ta``...Và bí quyết sinh tồn của  lục bát đâu phải chỉ do thể thơ này đã tự tạo cho mình một ``trường nét dư`` (Nguyễn Phan Cảnh) [10, tr.212], mà chính là ở những nhà thơ như Nguyễn Duy - người đem đến cho lục bát ``sự lung linh, kỳ ảo và sống động với chiều kích lớn rộng cao sâu của cuộc sống hiện thực mới`` (Nguyễn Trọng Tạo) [81, tr.272].

3.2. NGÔN NGỮ THƠ NGUYỄN DUY        

Bên cạnh thể thơ, ngôn ngữ cũng là một phương diện quan trọng khi nghiên cứu phong cách một nhà thơ bởi ``thơ là nghệ thuật lấy ngôn ngữ làm cứu cánh`` (Jakobson) và ``chữ bầu lên nhà thơ`` (Etmông Fabex) [26, tr.8]. Ngôn ngữ được sử dụng trong thơ là ngôn ngữ  hoạt động dưới dạng lời nói ``có tính chất cá nhân và nhất thời`` (F.Saussure) [71, tr.46], nên vừa  mang tính xã hội vừa mang đậm màu sắc cá nhân. Mặt khác, lời thơ về cơ bản là lời ``đơn thanh`` [8, tr.19] ``là tiếng nói trực tiếp và thuần khiết của nhà thơ nói cái của mình bằng ngôn ngữ của mình`` nên mang tính ``độc thoại`` (Bakhtin) [8, tr.19, 110], tính cá thể hoá cao độ, không chỉ phản ánh sinh động hiện thực cuộc sống mà còn thể hiện ``chiều sâu của sự suy nghĩ``, ``tính chất mẫn cảm và tinh tế của sức sáng tạo``, ``những trạng thái rung động của tâm hồn`` chủ thể nhà thơ (Hà Minh Đức) [30, tr.361]. Chính vì vậy, ``Mã số của thơ chỉ có thể cất dấu trong và bằng ngôn ngữ`` (Đỗ Lai Thuý) [89, tr.24], và một trong những mã số quan trọng ấy chính là phong cách nhà thơ.

Ở phương diện ngôn ngữ, tài năng của nhà thơ không phải chỉ thể hiện ở sự dung hợp nhiều phương tiện ngôn ngữ thuộc nhiều phong cách chức năng khác nhau, mà quan trọng hơn là nhà thơ phải tái tạo ngôn ngữ để ``cống hiến thêm vào cho biểu tượng của người đọc một sự thật mới, một hiện thực mới qua một ngôn từ nghệ thuật mới có sức biểu hiện cao`` (Hoàng Trinh) [11, tr.223], bởi vì ``xét cho cùng, lao động của nhà thơ chính là lao động kiếm chữ tìm từ, chế tác ngôn ngữ, tạo nghĩa mới`` (Mã Giang Lân) [47, tr.28-29]. Để tái tạo lại ngôn ngữ, tuỳ theo hoàn cảnh sáng tác, sở thích, đặc điểm tâm lý...mỗi nhà thơ thường chọn cho mình những phương thức nhất định. Trong hành trình sáng tạo của mình, những phương thức cơ bản thường được Nguyễn Duy sử dụng để ``làm mới`` ngôn ngữ là: phương thức so sánh, ẩn dụ; phương chuyển đổi cảm giác; phương thức trùng điệp và phương thức ``thơ hoá`` ngôn ngữ  đời thường.

3.2.1. Phương thức so sánh và ẩn dụ

Bằng phương thức so sánh và ẩn dụ, Nguyễn Duy đã góp thêm vào kho tàng ngôn ngữ dân tộc những từ mới như ``bầu trời vuông``: mái tăng, ``võng trăng``: võng của bộ đội Trường Sơn; bổ sung thêm những nét nghĩa mới cho những từ vốn trở nên quá quen thuộc như cây tre: ``Lưng trần phơi nắng phơi sương / có manh áo cộc tre nhường cho con`` (Tre Việt Nam), cây ngô: ``Cây ngô đứng nắng vẹo hông / Cho con bát nước ngon lành mẹ ơi`` (Bát nước ngô của bà mẹ Việt ở Cam Lộ), tắc kè: ``đêm trăn trở đố nhau bao giờ về thành phố / con tắc kè nghe, nhanh nhảu nói: sắp về !`` (Nghe tiếng tắc kè kêu trong thành phố), tuyết: ``bột trinh bạch đấy - trời vừa rây xong`` (Trắng ...và trắng...), rạ rơm: ``rạ rơm bạc phếch tóc dài`` (Mỗi)...và tạo nên những kết hợp từ lạ như: ``mưa dùng dằng`` (Sông Thao), ``lục bình trôi mộng du`` (Trăng sông Tiền), ``tiếng chuông chùa đi thủng thỉnh`` (Gửi Huế), ``trăng nghe nghé`` (Võng trăng),  ``gió loang toàng``, ``gió tuầy huầy``, ``gió vênh trời`` (Em ơi, gió...) ...thể hiện một trí tưởng tượng thật phong phú, bay bổng.

 3.2.2. Phương thức chuyển đổi cảm giác

Khi sử dụng phương thức chuyển đổi cảm giác - một phương thức được xây dựng trên thuyết tương giao của Baudelaire và được các nhà Thơ Mới vận dụng khá thành công - Nguyễn Duy đã giúp người đọc nhìn thấy ``tiếng chim lộng lẫy`` giữa rừng xanh Trường Sơn, ``luồng âm thanh chói đỏ`` của tiếng kèn xung trận, ``lời vàng tươi hoa cải`` của tiếng hát thiếu nữ trong hoài niệm của người lính nơi đồi trọc, màu ``trong leo lẻo``, ``loang lổ``, ``trắng tinh`` của thời gian... Cũng với phương thức này, ông đã giúp người đọc nghe được tiếng ``cây lúa đơm bông``, tiếng ``trái bưởi vàng đung đưa cành``, ``tiếng bạc xoá cánh đồng lăn nước giá``, âm thanh ``giòn tan`` của giọt nước mắt người đang yêu, tiếng ``bóng liêu xiêu``, tiếng mắt cười ``dịu dàng`` của người vợ, và cảm nhận được cảm giác ``mòn đêm`` của người lính trên ``võng bạc chon von``, sự  ``loay hoay bạc bạc dần`` của sợi tóc, cái ``thườn thượt``, ``lướt khướt quan toà`` của thời gian, sự ``thăm thẳm mai lởm chởm nhọc nhằn`` của kiếp người...Phương thức chuyển đổi cảm giác đã đem đến cho thơ Nguyễn Duy những kết hợp từ thật lạ, cấp cho từ ``những nghĩa mới, thoát ra khỏi sự ràng buộc về mặt vật chất (chữ) và chứa đựng, toả ra những lớp nghĩa mang tính biểu trưng`` (Mã Giang Lân) [47, tr.41], giúp người đọc nắm bắt được những cái vô hình quanh họ với một cái nhìn mới, lãng mạn hơn, tinh tế hơn.

Khi sử dụng phương thức chuyển đổi cảm giác, Nguyễn Duy không chỉ dừng lại ở sự hữu hình hoá những cái vô hình như các nhà thơ khác, mà ông còn vô hình hoá cả những cái vô hình, khiến sự bí ẩn của thiên nhiên, của cuộc đời lại càng trở nên huyền diệu. Ví dụ như để miêu tả tiếng chim, ông đã dùng cụm từ ``cầu âm thanh``:    Bóng chim càng xa hút

                 Bên kia cầu âm thanh

                                    (Tiếng chim bè bạn)

Thay vì cụ thể hoá âm thanh tiếng chim bằng sắc màu, âm thanh, hình khối cụ thể, ông lại dùng hình ảnh ``cầu âm thanh``, nhưng với chiếc cầu không có thực trong đời đó, ông đã hướng tâm tưởng người đọc vút theo một tiếng chim đang nối khu rừng này với khu rừng khác bằng những âm thanh trong vắt. Cách kết hợp từ độc đáo đó đã tạo nên âm thanh và hình ảnh cánh chim cứ chấp chới mãi trong lòng người. Những cụm từ như ``dấu chân trần gian``, ``dấu chân cuối mùa``, ``lúng liếng sông``...cũng đều có chung ý nghĩa như vậy. Những ngôn từ ấy đã thực sự ``rời bỏ một bờ này của thế giới tư duy và tràn sang một bến khác`` (V.Hugô). Nhưng dù sử dụng phương thức chuyển đổi cảm giác theo hướng nào, ngôn ngữ thơ Nguyễn Duy cũng đạt đến độ ``động chạm tới hết mọi giác quan hoặc ở bên kia các giác quan`` như Đới Vọng Thư, nhà thơ nổi tiếng của Trung Quốc đã quan niệm [6, tr.14], thể hiện rất rõ trí tưởng tượng bay bổng, sự nhạy cảm, tinh tế của hồn thơ Nguyễn Duy.



Trang chủ    |   Truyền thống    |   Tin tức - Hoạt động    |   Tập san    |   Dạy và học   
Bảnn quyền thuộc trường THPT Ðông Hà – Tỉnh Quảng Trị
Phát triển bởi Trung Tâm Phát Triển Công Nghệ Thông Tin – Viễn Thông Quảng Trị. ÐT:053.3556.911
Luợt truy cập: 1173817